Nghị định 330/2026/NĐ-CP quy định các mức xử phạt đối với hành vi không thông báo, thông báo không đúng thời hạn hoặc cung cấp thông tin sai lệch về sự cố dữ liệu cá nhân. Vậy hành vi không thông báo sự cố dữ liệu cá nhân cho cơ quan chuyên trách bị xử phạt ra sao? Những trường hợp nào có thể bị phạt tiền và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả? Để giải đáp thắc mắc này, hãy cùng Văn phòng công chứng Nguyễn Huệ tìm hiểu thông tin qua bài viết dưới đây nhé.

>>> Xem thêm: Công chứng văn bản thừa kế bất động sản có phải thủ tục bắt buộc không?

1. Không thông báo sự cố dữ liệu cá nhân cho cơ quan chuyên trách bị phạt thế nào?

Theo khoản 2 Điều 54 và khoản 1 Điều 7 Nghị định 330/2026/NĐ-CP, tổ chức có hành vi không thông báo cho cơ quan chuyên trách bảo vệ dữ liệu cá nhân trong các trường hợp được quy định sẽ bị phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 40 triệu đồng. Đối với cá nhân thực hiện cùng hành vi vi phạm, mức phạt là từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng.

Các trường hợp thuộc diện bị xử phạt bao gồm:

  • Phát hiện hành vi vi phạm các quy định pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân;
  • Dữ liệu cá nhân bị xử lý không đúng mục đích hoặc không phù hợp với nội dung đã thỏa thuận;
  • Không bảo đảm quyền của chủ thể dữ liệu cá nhân hoặc thực hiện không đúng các quyền này theo quy định.

Bên cạnh hình thức phạt tiền, theo điểm a khoản 5 Điều 54 Nghị định 330/2026/NĐ-CP, tổ chức, cá nhân vi phạm còn có thể bị buộc thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thông báo theo quy định và cung cấp tài liệu chứng minh việc thực hiện cho cơ quan có thẩm quyền.

Sự cố dữ liệu cá nhân

2. Cố ý che giấu hoặc báo cáo sai quy mô sự cố rò rỉ dữ liệu cá nhân bị phạt bao nhiêu?

Theo điểm c khoản 1 Điều 54 Nghị định 330/2026/NĐ-CP, hành vi báo cáo vi phạm, sự cố rò rỉ dữ liệu cá nhân cho cơ quan chuyên trách bảo vệ dữ liệu cá nhân nhưng cố tình che giấu hoặc cung cấp thông tin không chính xác có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng đối với tổ chức.

Quy định này áp dụng đối với những chủ thể có trách nhiệm trong quá trình kiểm soát và xử lý dữ liệu cá nhân, bao gồm:

  • Bên kiểm soát dữ liệu cá nhân;
  • Bên kiểm soát và xử lý dữ liệu cá nhân;
  • Bên xử lý dữ liệu cá nhân.

Những thông tin bị che giấu hoặc báo cáo sai lệch có thể liên quan đến tính chất của sự cố, phạm vi và quy mô ảnh hưởng, các loại dữ liệu cá nhân bị tác động hoặc số lượng chủ thể dữ liệu cá nhân chịu ảnh hưởng từ sự cố.

Theo khoản 1 Điều 7 Nghị định 330/2026/NĐ-CP, cá nhân thực hiện hành vi vi phạm tương tự bị phạt tiền từ 05 triệu đồng đến 10 triệu đồng.

Ngoài việc phải nộp phạt, theo điểm a khoản 5 Điều 54 Nghị định này, người vi phạm còn bị buộc thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thông báo vi phạm theo đúng nội dung, hình thức và thời hạn quy định. Đồng thời, người vi phạm phải cung cấp minh chứng về việc thực hiện nghĩa vụ cho cơ quan có thẩm quyền.

3. Thông báo cho cơ quan chuyên trách chậm hơn 72 giờ bị phạt thế nào?

Khoản 3 Điều 54 Nghị định 330/2026/NĐ-CP quy định mức phạt tiền từ 40 triệu đồng đến 60 triệu đồng đối với tổ chức có hành vi thông báo chậm trong những trường hợp thuộc phạm vi điều chỉnh của khoản này. Theo khoản 1 Điều 7 của Nghị định, cá nhân thực hiện cùng hành vi bị phạt từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng.

3.1. Chủ thể vi phạm và thời điểm xác định hành vi thông báo chậm

Theo khoản 3 Điều 54 Nghị định 330/2026/NĐ-CP, những chủ thể có thể bị xử phạt về hành vi thông báo chậm bao gồm:

  • Bên kiểm soát dữ liệu cá nhân;
  • Bên kiểm soát và xử lý dữ liệu cá nhân;
  • Bên thứ ba.

Hành vi vi phạm được xác định khi các chủ thể thuộc diện áp dụng không thông báo kịp thời cho cơ quan chuyên trách bảo vệ dữ liệu cá nhân mà thực hiện thông báo muộn hơn 72 giờ kể từ thời điểm phát hiện vi phạm quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân, trong trường hợp đáp ứng các điều kiện được quy định tại khoản này.

Sự cố dữ liệu cá nhân

>>> Xem thêm: Từ 01/01/2025, có thể kiểm tra Sổ đỏ thật giả bằng mã QR?

3.2. Những trường hợp vi phạm thuộc diện bị xử phạt

Căn cứ khoản 3 Điều 54 Nghị định 330/2026/NĐ-CP, hành vi thông báo chậm quá 72 giờ bị áp dụng khung phạt nêu trên khi vi phạm quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân thuộc một trong các trường hợp sau:

  • Gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt hại đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự và an toàn xã hội;
  • Xâm phạm hoặc có nguy cơ ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của chủ thể dữ liệu cá nhân.

Ngoài hình thức phạt tiền, điểm a khoản 5 Điều 54 Nghị định 330/2026/NĐ-CP còn quy định biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi này. Theo đó, tổ chức, cá nhân vi phạm phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thông báo theo đúng nội dung, hình thức và thời hạn được quy định, đồng thời cung cấp minh chứng thực hiện cho cơ quan có thẩm quyền.

4. Không thông báo kịp thời hoặc không lập biên bản vi phạm bị phạt bao nhiêu?

Theo khoản 1 Điều 54 Nghị định 330/2026/NĐ-CP, khi phát hiện hành vi vi phạm quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân, bên xử lý dữ liệu có trách nhiệm thông báo kịp thời cho chủ thể có liên quan. Bên kiểm soát dữ liệu cũng phải thực hiện nghĩa vụ lập biên bản xác nhận việc xảy ra vi phạm theo quy định.

Nếu không thực hiện những nghĩa vụ này, tổ chức, cá nhân có liên quan có thể bị xử phạt hành chính tùy theo tính chất và hành vi vi phạm cụ thể.

4.1. Bên xử lý dữ liệu không thông báo kịp thời khi phát hiện vi phạm

Theo điểm a khoản 1 Điều 54 Nghị định 330/2026/NĐ-CP, khi phát hiện hành vi vi phạm quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân, bên xử lý dữ liệu cá nhân phải nhanh chóng thông báo cho bên kiểm soát dữ liệu cá nhân hoặc bên kiểm soát và xử lý dữ liệu cá nhân.

Trường hợp không thực hiện nghĩa vụ thông báo kịp thời theo quy định, tổ chức vi phạm có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng.

Đối với cá nhân có cùng hành vi vi phạm, căn cứ khoản 1 Điều 7 Nghị định 330/2026/NĐ-CP, mức phạt được áp dụng bằng một nửa mức phạt đối với tổ chức, tương ứng từ 05 triệu đồng đến 10 triệu đồng.

4.2. Không lập biên bản xác nhận việc xảy ra vi phạm

Điểm b khoản 1 Điều 54 Nghị định 330/2026/NĐ-CP quy định về trách nhiệm lập biên bản xác nhận hành vi vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Theo đó, bên kiểm soát dữ liệu cá nhân hoặc bên kiểm soát và xử lý dữ liệu cá nhân không lập biên bản xác nhận việc xảy ra hành vi vi phạm theo quy định có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng nếu chủ thể vi phạm là tổ chức.

Trong trường hợp cá nhân thực hiện hành vi tương tự, mức phạt được áp dụng là từ 05 triệu đồng đến 10 triệu đồng.

Ngoài việc nộp phạt, theo điểm a khoản 5 Điều 54 Nghị định 330/2026/NĐ-CP, tổ chức, cá nhân vi phạm còn có thể bị buộc thực hiện nghĩa vụ thông báo về hành vi vi phạm theo đúng quy định pháp luật.

5. Không ngăn chặn, khắc phục hoặc phối hợp xử lý vi phạm bị phạt thế nào?

Theo khoản 4 Điều 54 Nghị định 330/2026/NĐ-CP, tổ chức có hành vi không thực hiện các biện pháp ngăn chặn, không khắc phục hậu quả hoặc không phối hợp với cơ quan chuyên trách bảo vệ dữ liệu cá nhân trong quá trình xử lý vi phạm có thể bị phạt tiền từ 60 triệu đồng đến 80 triệu đồng.

Các hành vi thuộc phạm vi xử phạt bao gồm:

  • Không triển khai biện pháp cần thiết để ngăn chặn hành vi vi phạm hoặc không thực hiện việc khắc phục hậu quả phát sinh từ hành vi vi phạm;
  • Không phối hợp với cơ quan chuyên trách bảo vệ dữ liệu cá nhân trong quá trình xác minh, xử lý hành vi vi phạm theo quy định.

Căn cứ khoản 1 Điều 7 Nghị định 330/2026/NĐ-CP, cá nhân thực hiện những hành vi vi phạm tương ứng bị phạt tiền từ 30 triệu đồng đến 40 triệu đồng.

Bên cạnh hình thức xử phạt bằng tiền, tổ chức, cá nhân vi phạm còn phải thực hiện các biện pháp ngăn chặn và khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm gây ra theo yêu cầu của cơ quan chuyên trách bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Như vậy, việc thông báo kịp thời, cung cấp thông tin chính xác và phối hợp xử lý sự cố dữ liệu cá nhân là những nghĩa vụ quan trọng đối với các chủ thể có liên quan. Nếu không thực hiện đúng trách nhiệm, tổ chức, cá nhân có thể phải chịu mức phạt hành chính đáng kể và bị buộc thực hiện các biện pháp khắc phục theo quy định.

>>> Có thể bạn quan tâm: Trường hợp nào được miễn tất cả các loại thuế phí khi làm dịch vụ sang tên sổ đỏ nhanh cho căn hộ chung cư năm 2026.

Trên đây là giải đáp của chúng tôi về vấn đề “Không thông báo sự cố dữ liệu cá nhân cho cơ quan chuyên trách bị phạt ra sao?”. Ngoài ra, nếu có bất kỳ thắc mắc nào hoặc cần hỗ trợ pháp lý, quý khách vui lòng liên hệ trực tiếp với Văn phòng công chứng Nguyễn Huệ theo thông tin:

VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG NGUYỄN HUỆ

Miễn phí dịch vụ công chứng tại nhà

VPCC Nguyễn Huệ được thành lập từ ngày 03/10/2012, có địa chỉ trụ sở tại số 165 Giảng Võ, phường Ô Chợ Dừa, thành phố Hà Nội dưới sự điều hành của các Công chứng viên có trình độ và bề dày thành tích trong ngành pháp luật cũng như trong lĩnh vực công chứng:

  1. Công chứng viên kiêm Trưởng Văn phòng Nguyễn Thị Huệ: Cử nhân Luật, cán bộ cấp cao, đã có 31 năm làm công tác pháp luật, có kinh nghiệm trong lĩnh vực quản lý nhà nước về công chứng, hộ tịch, quốc tịch. Trong đó có 7 năm trực tiếp làm công chứng và lãnh đạo Phòng Công chứng.
  2. Công chứng viên Nguyễn Thị Thủy: Thẩm Phán ngành Tòa án Hà Nội với kinh nghiệm công tác pháp luật 30 năm trong ngành Tòa án, trong đó 20 năm ở cương vị Thẩm Phán.
  3. Công chứng viên Chu Cảnh Hưng: Đã từng làm 10 năm Viện phó viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Trưởng văn phòng công chứng Chu Cảnh Hưng.
  4. Công chứng viên Nguyễn Thị Kim Thanh: Là Luật sư, nguyên Trưởng Văn phòng công chứng tại Bắc Ninh với nhiều năm kinh nghiệm quản lý và điều hành nghiệp vụ. Chuyên gia dày dạn trong việc thẩm định hồ sơ pháp lý, giải quyết những hồ sơ khó và phức tạp một cách chuẩn xác nhất.
  5. Xem thêm…
  • Địa chỉ: 165 Giảng Võ, phường Ô Chợ Dừa, Hà Nội
  • Hotline: 0966.22.7979
  • Email: ccnguyenhue165@gmail.com

XEM THÊM CÁC TỪ KHÓA TÌM KIẾM:

>>> Công chứng ủy quyền mua bán nhà đất cần chuẩn bị những giấy tờ gì?

>>> Khi có đồng sở hữu, công chứng mua bán nhà đất cần những điều kiện gì?

>>> Địa chỉ dịch thuật đa ngôn ngữ hiếm uy tín nhất tại Hà Nội

>>> Công chứng di chúc đối với người bị cụt tay được thực hiện thế nào?

>>> Xác thực sinh trắc học là gì? Các loại sinh trắc học phổ biến hiện nay