Tùy từng thời điểm và hoàn cảnh cụ thể mà đất do xã giao hoặc do các cơ quan, đơn vị phân cho cán bộ, công nhân viên để làm nhà ở có thể được xem xét cấp Sổ đỏ. Tuy nhiên, nhiều người băn khoăn liệu đất do xã giao sau năm 2014 có được cấp Giấy chứng nhận hay không? Hãy cùng Văn phòng công chứng Nguyễn Huệ tìm hiểu thông tin qua bài viết dưới đây.

>>> Xem thêm: Trường hợp sau khi tranh chấp đất đai có làm được dịch vụ sổ đỏ nhanh không?

Thực tế, đất do UBND cấp xã (xã, phường, thị trấn) giao kể từ ngày 01/7/2014 trở về sau sẽ không được cấp Giấy chứng nhận vì đây là trường hợp giao đất không đúng thẩm quyền. Nội dung này được làm rõ thông qua các quy định sau:

1. Thẩm quyền giao đất cho hộ gia đình, cá nhân

Dù theo quy định của Luật Đất đai 2013 trước đây hay Luật Đất đai 2024 hiện hành thì thẩm quyền giao đất cho hộ gia đình, cá nhân chỉ thuộc về UBND cấp huyện, không phải cấp xã.

Cụ thể, khoản 2 Điều 59 Luật Đất đai 2013 quy định UBND cấp huyện có quyền quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân; đồng thời việc cho thuê hoặc chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang mục đích thương mại, dịch vụ với diện tích từ 0,5 ha trở lên phải được UBND cấp tỉnh chấp thuận trước. Ngoài ra, UBND cấp huyện cũng có thẩm quyền giao đất cho cộng đồng dân cư.

Đến Luật Đất đai 2024, nội dung này tiếp tục được khẳng định tại khoản 2 Điều 123 với quy định tương tự: UBND cấp huyện là cơ quan duy nhất có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất hoặc cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với cá nhân và cộng đồng dân cư.

Đất do xã giao sau 2014

Như vậy, các trường hợp đất do UBND cấp xã hoặc các cơ quan, đơn vị khác như quân đội, công an, trường học, bệnh viện, hợp tác xã… giao trước đây đều được xác định là giao đất không đúng thẩm quyền. Hiện nay, UBND cấp xã chỉ có quyền cho thuê đất thuộc quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích, không có quyền giao đất cho hộ gia đình, cá nhân theo khoản 3 Điều 123 Luật Đất đai 2024.

>>> Xem thêm: Đâu là văn phòng công chứng gần nhất tại Hà Nội hỗ trợ công chứng nhà đất nhanh?

2. Đất do xã giao sau năm 2014 có thể bị thu hồi

Theo quy định của Luật Đất đai 2013 trước đây, các trường hợp đất được giao không đúng thẩm quyền không những không được cấp Giấy chứng nhận mà còn có thể bị thu hồi.

Cụ thể, Điều 64 Luật Đất đai 2013 quy định Nhà nước thu hồi đất trong trường hợp đất được giao hoặc cho thuê không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền. Đồng thời, khoản 5 Nghị định 43/2014/NĐ-CP cũng nêu rõ Nhà nước không cấp Giấy chứng nhận và sẽ thu hồi toàn bộ diện tích đất được giao không đúng thẩm quyền kể từ ngày 01/7/2014 trở về sau.

Như vậy, theo quy định cũ, đất do UBND cấp xã giao sau ngày 01/7/2014 sẽ không được cấp Sổ đỏ.

Tuy nhiên, kể từ ngày 01/8/2024 khi Luật Đất đai 2024 có hiệu lực, pháp luật đã bổ sung thêm một trường hợp ngoại lệ. Theo khoản 4 Điều 140 Luật này, đối với đất được giao không đúng thẩm quyền trong khoảng thời gian từ 01/7/2014 đến trước 01/8/2024, người sử dụng đất vẫn có thể được xem xét cấp Sổ đỏ nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:

  • Được UBND cấp xã nơi có đất xác nhận không có tranh chấp;
  • Phù hợp với quy hoạch sử dụng đất;
  • Có giấy tờ chứng minh đã thực hiện nghĩa vụ tài chính để được sử dụng đất.

Theo đó, đất do xã giao trong giai đoạn từ 01/7/2014 đến trước 01/8/2024 vẫn có thể được cấp Sổ đỏ nếu đáp ứng đủ các điều kiện nêu trên. Ngược lại, nếu không đáp ứng thì không những không được cấp Sổ mà còn có thể bị thu hồi theo quy định tại khoản 3 Điều 82 Luật Đất đai 2024.

Kết luận: Đối với câu hỏi đất do xã giao sau năm 2014 có được cấp Sổ đỏ hay không, thì từ ngày 01/8/2024, chỉ những trường hợp đáp ứng đủ 3 điều kiện theo khoản 4 Điều 140 Luật Đất đai 2024 mới được xem xét cấp Sổ. Các trường hợp còn lại do giao sai thẩm quyền sau thời điểm này sẽ không được cấp Sổ đỏ và có thể bị thu hồi đất theo quy định.

>>> Có thể bạn quan tâm: Thủ tục công chứng hợp đồng mua bán nhà chung cư được thực hiện qua mấy bước?

Trên đây là giải đáp của chúng tôi về vấn đề “Đất do xã giao sau 2014 có được cấp Sổ đỏ không?”. Ngoài ra, nếu có bất kỳ thắc mắc nào hoặc cần hỗ trợ pháp lý, quý khách vui lòng liên hệ trực tiếp với Văn phòng công chứng Nguyễn Huệ theo thông tin:

VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG NGUYỄN HUỆ

Miễn phí dịch vụ công chứng tại nhà

VPCC Nguyễn Huệ được thành lập từ ngày 03/10/2012, có địa chỉ trụ sở tại số 165 Giảng Võ, phường Ô Chợ Dừa, thành phố Hà Nội dưới sự điều hành của các Công chứng viên có trình độ và bề dày thành tích trong ngành pháp luật cũng như trong lĩnh vực công chứng:

  1. Công chứng viên kiêm Trưởng Văn phòng Nguyễn Thị Huệ: Cử nhân Luật, cán bộ cấp cao, đã có 31 năm làm công tác pháp luật, có kinh nghiệm trong lĩnh vực quản lý nhà nước về công chứng, hộ tịch, quốc tịch. Trong đó có 7 năm trực tiếp làm công chứng và lãnh đạo Phòng Công chứng.
  2. Công chứng viên Nguyễn Thị Thủy: Thẩm Phán ngành Tòa án Hà Nội với kinh nghiệm công tác pháp luật 30 năm trong ngành Tòa án, trong đó 20 năm ở cương vị Thẩm Phán.
  3. Công chứng viên Chu Cảnh Hưng: Đã từng làm 10 năm Viện phó viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Trưởng văn phòng công chứng Chu Cảnh Hưng.
  4. Công chứng viên Nguyễn Thị Kim Thanh: Là Luật sư, nguyên Trưởng Văn phòng công chứng tại Bắc Ninh với nhiều năm kinh nghiệm quản lý và điều hành nghiệp vụ. Chuyên gia dày dạn trong việc thẩm định hồ sơ pháp lý, giải quyết những hồ sơ khó và phức tạp một cách chuẩn xác nhất.
  5. Xem thêm…
  • Địa chỉ: 165 Giảng Võ, phường Ô Chợ Dừa, Hà Nội
  • Hotline: 0966.22.7979
  • Email: ccnguyenhue165@gmail.com

XEM THÊM CÁC TỪ KHÓA TÌM KIẾM:

>>> Thủ tục công chứng giấy ủy quyền bao gồm những gì? Thời hạn xét duyệt trong vòng bao lâu?

>>> Công chứng thừa kế di sản là gì? Thủ tục công chứng văn bản thừa kế di sản

>>> Cách đọc thông tin sổ hồng mới nhất năm 2026. Hướng dẫn cách để kiểm tra thông tin cá nhân trong sổ hồng và tránh bị chiếm đoạt tài sản.

>>> Danh sách các văn phòng công chứng quận Cầu Giấy được khách hàng bình chọn tốt nhất năm 2026.

>>> Các vướng mắc khi làm thủ tục cấp sổ đỏ lần đầu mà người dân cần chú ý.

>>> Không duy trì nước chữa cháy có thể bị phạt đến 5 triệu đồng